Chào mừng bạn đến với Website trường THCS Chu Mạnh Trinh Đăng nhập | Đăng ký

Thành viên đăng nhập

Trường THCS Chu Mạnh Trinh
Để đăng nhập, bạn cần khai báo đầy đủ vào các ô trống dưới đây. Hệ thống sẽ kiểm tra tính hợp lệ của dữ liệu khai báo

Bảng vàng 2017 -2018

Nguyễn Thị Khánh Huyền - Lớp 8A3

- Huy chương Bạc kỳ thi Tìm kiếm tài năng Toán học trẻ Việt Nam - MYTS 2018

Nguyễn Thị Khánh Huyền - Lớp 8A3

- Huy chương Đồng kỳ thi Toán Hà Nội mở rộng năm 2018

Nguyễn Thị Trà My - Lớp 8A3

Huy chương Bạc kỳ thi Toán Hà Nội mở rộng năm 2018

Quản Xuân Trường - Lớp 8A3

Huy chương Bạc kỳ thi Toán Hà Nội mở rộng năm 2018

Quản Tuấn Huy - Lớp 8A3

Huy chương Đồng kỳ thi Toán Hà Nội mở rộng năm 2018

Quản Tuấn Huy - Lớp 8A3

Huy chương Đồng kỳ thi Tìm kiếm tài năng Toán học trẻ Việt Nam năm 2018 - MYTS 2018

Bùi Minh Quang - Lớp 7A3

Huy chương Đồng kỳ thi Tìm kiếm tài năng Toán học trẻ Việt Nam năm 2018 - MYTS 2018

Nguyễn Minh Cương - Lớp 6A3

Huy chương Đồng kỳ thi Tìm kiếm tài năng Toán học trẻ Việt Nam năm 2018 - MYTS 2018

Nguyễn Việt Anh - Lớp 9A2

Giải Nhất kỳ thi chọn HSG cấp tỉnh môn Hóa Học

Nguyễn Tuấn Anh- Lớp 9A3

Giải Nhất kỳ thi Tin học trẻ cấp tỉnh

Nguyễn Minh Liêm- Lớp 9A2

Giải Nhì kỳ thi Tin học trẻ cấp Tỉnh

Đỗ Đức Linh - Lớp 9A3

Giải Nhì kỳ thi chọn HSG cấp tỉnh môn Toán


Kết quả thi đua các lớp

KẾT QUẢ THI ĐUA CÁC LỚP
NĂM HỌC 2018 - 2019
TUẦN 08
Lớp Điểm Xếp thứ
6A1 128 3
6A2 123,965 11
6A3 122,06 12
7A1 125,58 7
7A2 124,975 10
7A3 128,03 2
8A1 126,5 6
8A2 127,55 4
8A3 125,475 5
9A1 125,3 9
 9A2 125,525 8
9A3 128.35 1
                   

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 7


Hôm nayHôm nay : 811

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1641451

Ban biên tập

Chịu trách nhiệm nội dung:
      Nguyễn Thị Hồng
Quản trị:
      Hoàng Hải Dương
Thành viên:
      Nguyễn Thị Hà
      Nguyễn Thị Thu Hà
      Ngô Thị Hằng
      Đàm Thị Hải Âu
      Vũ Thị Ngọc Lai
      Đào Thị Thùy Linh
      Đỗ Thị Hồng Thắm
      Hoàng Thị Hạnh


Tin Tức » Em yêu Lịch sử »

NHỮNG NGƯỜI CON ƯU TÚ ĐẤT HƯNG YÊN

Thứ hai - 05/10/2015 00:19 | Đã xem: 461
Hưng Yên không chỉ là mảnh đất trù phú, giàu truyền thống văn hóa, mà còn là nơi đã sinh ra những người con ưu tú như: Phó Đức Chính, Tô Hiệu, Nguyễn Văn Linh...Chúng ta thêm yêu hơn, tự hào hơn về quê hương mình khi nhìn lại chặng đường hoạt động cách mạng của họ.
Tô Hiệu – người chiến sĩ cộng sản kiên trung

  Tô Hiệu người làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang. Cha ông làm nghề dạy học. Ông đi học từ năm lên 6 tuổi, nhà nghèo nhưng học rất chăm chỉ.  

Nhà cách mạng Tô Hiệu (1912 - 1944)
 
Năm 1925 – 1926, ông theo học trường Pháp – Việt tại thị xã Hải Dương, tham gia phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh nên bị đánh trượt trong kì thi tiểu học.
Năm 1927, Tô Hiệu lên Hà Nội, vừa học vừa kiếm tiền nuôi thân, vừa tham gia hoạt động yêu nước trong phong trào học sinh. Sau đó được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1930, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt, chúng kết án 4 năm tù giam, đày đi Côn Đảo. Ra tù ông bị bọn mật thám xếp vào loại “nguy hiểm”, phải về quê nhà và bị quản thúc.
Trong những năm tháng sống ở quê, không bỏ phí thời gian, ông tìm mọi cách liên lạc với Đảng và lại lao vào hoạt động.. Ông còn vận động bà con thôn xóm góp công sức xây dựng trường học cho con em. Năm 1935, ông được điều lên Thái Nguyên để xây dựng cơ sở cách mạng. Sau chuyển về Hà Nội làm Ủy viên Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc kì, phụ trách tuyên huấn, trực tiếp lãnh đạo phong trào ở Hà Nội. Ông viết bài đăng trên các báo công khai để hướng dẫn công tác và cử cán bộ xuống vùng mỏ hoạt động, nhờ đó phong trào đấu tranh của công nhân mỏ lên mạnh.
Mùa thu năm 1938, ông được Trung ương Đảng phân công phụ trách miền duyên hải Bắc kỳ, trực tiếp làm Bí thư Ban cán sự Đảng Hải Phòng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh được đẩy lên mạnh mẽ. Các cuộc đấu tranh đòi  tăng lương, giảm giờ làm, đòi cải thiện đời sống của công nhân các nhà máy: Xi măng, máy điện, máy tơ, máy nước…đạt kết quả. Điển hình là cuộc đấu tranh của 3000 công nhân Nhà máy Tơ từ ngày 16 đến ngày 22/4/1939 do Tô Hiệu trực tiếp chỉ đạo, bọn chủ đã phải giải quyết toàn bộ yêu sách của công nhân.
Ngày 30/5/1939, Tô Hiệu lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thuế đen, thuế nước. Cảnh sát Pháp đàn áp bắt 72 người, nhờ sự bảo vệ của anh em công nhân, ông trốn thoát. Thời gian này Tô Hiệu bị bệnh lao phổi nặng, sức khỏe giảm sút. Xứ ủy yêu cầu nghỉ chữa bệnh nhưng ông vẫn tha thiết xin tiếp tục công tác. Ông tổ chức chỉ đạo báo “Chiến đấu” bí mật lưu hành ở Hải Phòng, số đầu tiên ra ngày 7/11/1939 – số đặc biệt kỷ niệm cách mạng tháng Mười Nga. Ông chủ trì hội nghị Trung ương lần thứ 6. Ngày 1/12/1939, ông bị bắt trên đường đi in tài liệu ở Hải Phòng. Bọn giặc tra tấn rất dã man nhưng ông tỏ rõ khí phách hiên ngang của người cộng sản. Những lúc hồi tỉnh ông lại tiếp tục tuyên truyền động viên các anh em trong nhà lao Hải Phòng giữ vững chí khí cách mạng, đấu tranh chống chệ độ nhà tù, tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2/1940 trong nhà tù đế quốc. Chính quyền thực dân đưa ông ra xét xử ở tòa án Kiến An, kết án 5 năm tù. Năm 1940, ông bị đày lên Sơn La.
Tại đây, Tô Hiệu được bầu là Bí thư chi bộ Đảng. Ông đã lãnh đạo anh em kiên trì đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù. Ông cùng với một số đồng chí viết tài liệu, mở lớp chính trị văn hóa giảng dạy cho bạn tù, biến nhà tù thành trường học và đào tạo cán bộ cách mạng, tìm cách liên lạc với một số tổ chức Đảng ở bên ngoài. Tên công sứ Pháp ở tỉnh Sơn La là Cút-xô thẳng tay đàn áp, chế độ nhà tù ngày một hà khắc. Anh em tù tuyệt thực để phản đối, nhiều người bị chúng giam trong hầm tối.
Do cuộc sống khắc nghiệt của nhà tù cùng với sự tra tấn tàn bạo của kẻ địch, sức khỏe của Tô Hiệu ngày một giảm sút, nhưng ông vẫn tin tưởng, lạc quan. Năm 1943, nghe tin Hồng quân Liên Xô thắng lớn ở Lêningrat, tuy đang mệt nhưng ông đã nhận định “Liên Xô sẽ thắng, phát xít sẽ thua, chiến tranh sẽ kết thúc, cách mạng Việt Nam sẽ thắng lợi”. Ngày 7/3/1944 Tô Hiệu qua đời tại Sơn La.
Mộ ông được an táng tại nghĩa địa Vườn ổi. ngày nay, ở nhà tù Sơn La, bên bức tường đá nhà ngục lạnh lẽo. Cây đào do ông trồng vẫn xanh tươi đầy sức sống. Cành đào được mang về từ Sơn La cứ mỗi lần xuân về, tết đến lại nở hoa đỏ thắm ở làng Xuân Cầu quê hương ông. Nhiều đường phố, trường học, nông trường được vinh dự mang tên Tô Hiệu.

Phó Đức Chính – người anh hùng hiên ngang lên máy chém

 
Phó Đức Chính sinh năm 1907, người làng Đa Ngưu (nay thuộc xã Tân Tiến) huyện Văn Giang, xuất thân trong một gia đình Nho học. Ông học trường Cao đẳng Công chính Hà Nội.
Tháng 12/1927, Phó Đức Chính tham gia thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng và là một trong năm thành viên lãnh đạo của Tổng bộ, phụ trách công tác tổ chức.
Tốt nghiệp trường Công chính, Phó Đức Chính được bổ nhiệm sang làm việc ở Lào. Ngày 9/2/1929, một đảng viên của Đảng là Nguyễn Văn Viên manh động ám sát tên mộ phu Ba-danh ở phố Huế, Hà Nội. Việt Nam Quốc Dân Đảng bị đế quốc khủng bố. Có hai kẻ khai báo nên Phó Đức Chính bị bắt đưa về nước, song thực dân không có chứng cứ để buộc tội ông.
Được trả tự do, Phó Đức Chính dấn thân vào con đường cách mạng, ông trả hết những kỷ vật cho vị hôn thê là cô Thắm ở Thanh Hóa.
Đế quốc Pháp vẫn tăng cường khủng bố Việt Nam Quốc Dân Đảng ở khắp nơi. Ngày 17/9/1929, Tổng bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng đã triệu tập Hội nghị tại xã Lạc Đạo (Văn Lâm). Tại hội nghị này, những người dự họp chia làm hai phái là bạo động và chờ thời cơ, Nguyễn Thái Học đã nói một câu nổi tiếng: “Không thành công thì thành nhân”.
Ngày 26/1/1930, Hội nghị đại biểu toàn quốc Việt Nam Quốc Dân Đảng họp tại làng Mỹ Xá, huyện Nam Sách (Hải Dương) đã quyết định tổng khởi nghĩa vào ngày 9/2/1930, phân công các chỉ huy đánh chiếm thị xã Yên Bái, Sơn Tây, Hưng Hóa, Phả Lại, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Hà Nội… Phó Đức Chính được giao chỉ huy đánh Sơn Tây. Gần tới ngày khởi sự, lực lượng đánh Sơn Tây ít, nên Phó Đức Chính lên tham gia khởi nghĩa Yên Bái trước.
Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Phó Đức Chính vẫn hăng hái cùng một số đồng chí của ông về Sơn Tây gấp rút chuẩn bị đánh đồn Thông. Ngày 13/1/1930, kho bom của quân khởi nghĩa để ở Quang Húc đã bị quân Pháp phát hiện lấy hết, nhưng Phó Đức Chính vẫn quyết tâm hạ đồn. Chiều ngày 15/2/1930, Phó Đức Chính cùng Nguyễn Văn Khôi đang làm việc ở nhà quản Tân tại làng Nam An (tổng Cẩm Thượng, huyện Tùng Thiện, Sơn Tây) thì bị bắt.
Không bao lâu Nguyễn Thái Học cùng nhiều yếu nhân khác cũng bị bắt. Hội đồng đề hình xử 10 án khổ sai có hạn, 34 án khổ sai chung thân, 50 án đi đầy, 40 án tử hình trong đó có Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính.
 5 giờ 30 phút sáng ngày 17/6/1930, đế quốc Pháp đưa các chiến sĩ ra hành hình. Mọi người đều hiên ngang, bất khuất khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ, nhân dân kính phục và thương cảm. Phó Đức Chính bị xử thứ 12. Ông đòi chúng đặt nằm ngửa nhìn lưỡi dao máy chém. Phó Đức Chính chỉ kịp hô: “Việt Nam vạn tuế” thì lưỡi dao tàn bạo của đế quốc đã hạ xuống. Phó Đức Chính đã hy sinh trong tư thế một chiến sĩ.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh - người khởi xướng công cuộc đổi mới
 
Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1/7/1915 (19/5 Ất Mão) tại làng Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1915-1998)
 
Thời niên thiếu, ông Cúc phải chịu đựng biết bao điều bất hạnh: 5 tuổi đã mồ côi mẹ, 11 tuổi, thân phụ qua đời. Từ đó Nguyễn Văn Cúc sống nhờ vào sự đùm bọc của người chú ruột là Nguyễn Văn Hùng - một người có học thức, làm ở Sở dây thép Hải Phòng.
Sống trong cảnh nước mất, nhà tan, ông Cúc đã sớm có tinh thần yêu nước và tham gia vào các tổ chức cách mạng của Đảng.
Năm 1929 ông tham gia tổ chức Học sinh Đoàn do Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội lãnh đạo.
Ngày 01/5/1930, tham gia rải truyền đơn chống thực dân Pháp, bị giặc bắt, kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo. Ông là một trong những tù nhân trong án chính trị trẻ nhất lúc bấy giờ.
Năm 1935, Mặt trận Bình dân nắm chính quyền ở Pháp, thực hiện mở rộng tự do, dân chủ. Thực dân Pháp ở Đông Dương trả tự do cho một số tù chính trị, trong đó có Nguyễn Văn Cúc. Cũng trong năm đó ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương rồi được cử về Hải Phòng hoạt động. Tại đây, ông đã cùng các đồng chí xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng trung kiên và tổ chức quần chúng tin cậy, thành lập Đảng bộ lâm thời Hải Phòng.
Năm 1936, Nguyễn Văn Linh được Đảng điều vào công tác ở thành phố Sài Gòn, tham gia Ban chấp hành Đảng bộ thành phố. Cuối năm 1939, chiến tranh thế giới bùng nổ, do chính sách khủng bố trắng trợn của thực dân Pháp, nhiều cơ sở cách mạng trong cả nước bị khủng bố và tan rã, ông được phân công ra Trung kỳ bắt liên lạc với cơ sở Đảng còn lại ở các tỉnh để lập lại Xứ ủy.
Đầu năm 1941, ông bị địch bắt, đưa vào Sài Gòn, xử 5 năm tù và đày ra Côn Đảo lần thứ hai.
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Nguyễn Văn Linh được trở về Nam Bộ, trực tiếp tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến ngay trong lòng thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn với cương vị Bí thư Thành ủy, Bí thư Đặc khu ủy. Từ năm 1949, ông Tham gia Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ.
Từ năm 1957 đến năm 1960, ông phụ trách Quyền Bí thư Xứ ủy Nam Bộ.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960) ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, trên cương vị Phó Bí thư và Bí thư, ông đã cùng Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo quân và dân miền Nam làm cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước từ những năm tháng đen tối đến mùa xuân lịch sử toàn thắng (năm 1975).
Tổ quốc Việt Nam được thống nhất, ông được phân công trở lại làm Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử vào Bộ Chính trị, Ban bí thư Trung ương Đảng, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Trưởng Ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Dân vận và Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Từ cuối năm 1981 đến giữa năm 1986, ông được phân công làm Bí thư Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982) ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Sau đó, ông được cử vào Bộ Chính trị tham gia Ban Bí thư, thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) bầu ông làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Nguyễn Văn Linh là một trong những nhà lãnh đạo của Đảng khởi xướng đường lối đổi mới, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Năm 1987 đồng chí đã phát biểu và viết nhiều bài quan trọng làm sáng tỏ quan điểm đổi mới, đặc biệt là những vấn đề ông nêu ra dưới tiêu đề “Những việc cần làm ngay” mang bút danh N.V.L đã tạo luồng sinh khí mới trong xã hội: Dân chủ, công khai, nói thẳng, nói thật có tác dụng thúc đẩy các cấp, các ngành, các tổ chức giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc trong thực tế cuộc sống hàng ngày, đấu tranh chống tiêu cực tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong nếp nghĩ, cánh làm của mỗi người. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) ông thôi giữ chức Tổng Bí thư và làm Cố vấn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Ông qua đời tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 27 năm 4 năm 1998, thọ 84 tuổi.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông Nguyễn Văn Linh đã từng trải biết bao gian khổ về vật chất và tinh thần, đã bình tĩnh trước mọi hiểm nguy và biến cố, có niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, có tầm nhìn chiếc lược và tình thương yêu đồng bào, đồng chí sâu sắc nên ở bất cứ cương vị nào, ông cũng mang hết sức lực cống hiến cho Đảng, cho dân.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Nguyễn Văn Linh đã có những đóng góp quan trọng và có hiệu quả vào việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Là tổng Bí thư của Đảng trong nhiệm kì đầu tiên của thời kì đổi mới, ông đã cùng tập thể chủ động sáng tạo, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những bước hiểm nghèo trong thời kì đất nước ta đang lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Ông đã kiên trì thực hiện đổi mới có nguyên tắc – đổi mới nhưng luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện “Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”.
Trong cuộc sống hàng ngày, Nguyễn Văn Linh luôn thẳng thắn, trung thực, sâu sát với thực tế. Ông là một mẫu mực về sự giản dị, liêm khiết, dân chủ và kiên quyết chống tham ô, lãng phí, phô trương hình thức. Ông rất được đồng bào, đồng chí tin yêu, kính phục.
Do có công lao và thành tích đối với cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác. Vì công lao xây đắp tình hữu nghị, ông được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng thưởng Huân chương Vàng quốc gia, Nhà nước Cu Ba tặng thưởng Huân chương Hô-xê Mac-ti, Nhà nước Campuchia tặng thưởng Huân chương Ăng-co.
Là một cán bộ ưu tú của Đảng có những đóng góp to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp đổi mới đất nước, năm 2003, tỉnh Hưng Yên đã cho xây dựng Nhà tưởng niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại quê hương ông: Thôn Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ. Công trình được khánh thành và đưa vào sử dụng ngày 17/9/2004.
 




Tác giả bài viết: Đặng Thị Mai Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết